Tin HOT

Luận bàn về văn hóa chửi

Ngồi uống cafe xem fây, nghe vợ chồng kế bên quán chửi nhau, lại thấy trên facebook có một số bạn comment bằng những lời chửi tục tĩu và cũng có một số bạn khác phản ứng lại. Lại nhớ trong quân đội xưa đã có một loại quân đặc biệt chuyên chửi mắng, đó là các “mạ thủ”. Đội quân mạ thủ này, hiện nay, quân đội Trung Quốc vẫn còn sử dụng, thí dụ khi một số vị tướng lĩnh Việt Nam ra thăm Trường Sa, đội mạ thủ Trung Quốc đi tàu bám theo bắc loa tố cáo rằng ông ta ăn hối lộ thế nào, chơi bới gái gú ra sao, do quân đội Việt Nam thường đi học tập chính trị bên trung Quốc và bị họ theo dỏi lập các chứng cứ. Trong luật doanh nghiệp có quy định cấm đặt tên doanh nghiệp bằng ngôn từ tục tĩu,rồi lại nghe nói có lệnh từ trên thiên đình quy định cấm người dân không được nói xấu, bôi nhọ.

24htin.info

24htin.info

Ở đây, tôi không bàn về mặt pháp lý, bởi vì những quy định cấm ấy, những điều luật ấy đã vi phạm nguyên tắc tối thiểu là “ngôn ngữ pháp lý dùng trong các điều luật là chính xác, rõ ràng, không đa nghĩa và mọi người cùng thống nhất về cách hiểu”. Các từ “tục tĩu, nói xấu, bôi nhọ” không phải ngôn ngữ pháp lý mà là ngôn ngữ dân dã; vì thế nào là nói xấu, thế nào là bôi nhọ; không nói xấu, bôi nhọ mà chửi được không, ngôn từ nào là tục tĩu; phải liệt kê ra chứ. Cho nên, tôi bàn về góc độ xã hội học về văn hóa chửi để mọi người đọc cho vui. Không dám nói như Nguyễn Du “mua vui cũng được một vài trống canh” mà chỉ cần cười một tiếng rồi chửi một tiếng cũng xả bớt stress sau khi xem các văn bản luật.
Bao giờ cũng bắt đầu từ xuất xứ. Nếu luận theo thuyết tiến hóa của Darwin, khi con người tiến hóa từ loài vượn cổ và để phân biệt giữa tiếng hú, hét, khẹt khẹt của loài vượn với tiếng nói của loài người thì câu nói đầu tiên của loài người có lẽ là câu chửi thề chứ không phải là câu nói yêu thương. Bởi lẽ, khi người tiền sử săn thú mà con thú nó chạy mất, bao nhiêu công sức rình phục phối hợp mất công toi. Do bực bội, người tiền sử chịu không nổi và văng ra câu nói đầu tiên: đó là câu chửi thề xyz gì đó. Sở dĩ câu nói yêu thương không phải là câu đầu tiên của thời bình minh của loài người vì khi yêu thương, hai người tiền sử không cần nói mà dùng tay vuốt ve là đủ vì một hành động yêu thương gấp ngàn lần lời nói hoa mỹ. Còn theo đạo Công giáo, câu nói đầu tiên của loài người mới là câu yêu thương. Đạo Công giáo cho rằng Đấng Chúa Cha tạo ra ông Adam, sau đó mới tạo ra bà Eva. Khi hai người ăn trái cấm xong, họ mới có tình cảm và câu nói đầu tiên của loài người là ông Adam nói với bà Eva chắc là câu “I love you”. Nhưng luận bàn về câu chửi thì chúng ta phải theo luận thuyết tiến hóa của Darwin. Dần dần, qua lao động sống, ngôn ngữ phong phú hơn thì các câu chửi cũng phát triển đa dạng hơn. Bất kỳ dân tộc nào nào trên hành tinh này, dùng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều có câu chửi các loại.

Văn hóa chửi

Văn hóa chửi

Văn hóa của nhân loại gồm có văn hóa vật thể (đình, chùa, miếu, danh lam, thắng cảnh, kiến trúc..v.v..) và văn hóa phi vật thể (nhạc, văn, thơ..v.v..) Do các câu chửi gắn liền với ngôn ngữ trong sinh hoạt văn hóa xã hội nên chúng ta có thể kết luận rằng: chửi cũng là một biểu hiện văn hóa của nhân dân. Trong sinh hoạt cuộc sống của con người có rất nhiều loại như văn hóa ẩm thực, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa pháp đình..v.v.. và cũng phải có văn hóa chửi, là loại văn hóa phi vật thể. Còn biểu hiện có tính tích cực hay tiêu cực là do thái độ chủ quan của mỗi cá nhân áp đặt vào nó.

Tùy thuộc vào ngôn ngữ của các quốc gia, người Pháp thì có các câu chửi tiếng Pháp, người Anh chửi tiếng Anh, người Nga chửi tiếng Nga và người Việt chửi tiếng Việt; nhưng tựu trung chỉ có ba loại chửi: Chửi bình dân, Chửi văn chương và Chửi trung thực.

1) Chửi bình dân: Là cách chửi của giới bình dân. Loại chửi này thường dùng phép so sánh người bị chửi với các loại đồ nọ, đồ kia hoặc dùng cách thay đổi ngữ cảnh của sự việc. Các loại đồ này có tính chất đặc trưng không bao giờ là các loại đồ dùng sinh hoạt do con người chế tạo ra như đồ cái chổi, đồ tivi hoặc đồ ăn thức uống mà thường gán ghép loài thú dễ thương với nghề nghiệp hạ tiện. Chữ “đồ” là chỉ đối tượng bị chửi. Thí dụ chữ “đồ” gắn với con chó, con ngựa với nghề nghiệp của Thúy Kiều trong tác phẩm nổi tiếng của thi hào Nguyễn Du, danh nhân văn hóa thế giới. Hoặc câu chửi phổ biến khác là gọi tên bộ phận xác định giới tính ra gắn vào chữ “đồ” để chỉ đối tượng bị chửi. Khi dùng cách thay đổi ngữ cảnh, đó là họ chửi bằng cách gọi tên một bộ phận thiêng liêng của cơ thể hoặc một hành vi thực hiện nhiệm vụ cao quý của tạo hóa ban cho; trong khi ngôn ngữ gọi chỉ được phép sử dụng ở chốn riêng tư mà thôi; nhưng thay đổ ngữ cảnh, đem gọi các bộ phận này, hành vi này nơi công cộng; lại thành câu chửi thề.
Loại chửi bình dân này thường ngắn gọn,rõ ràng, mang tính khẳng định cao để xác định tính cách của đối tượng và phổ biến trong giới lao động. Bởi vì do lao động trực tiếp nên đổ mồ hôi, mất sức nhiều và sự am hiểu về văn thơ triết học chính trị không cao nên câu chửi của họ ngắn gọn, phù hợp với điều kiện sinh hoạt của họ. Trên FB, những người này chửi bằng ngón tay gõ bàn phím nên họ chửi thường gõ sai chính tả và không thèm sửa. Sở dĩ họ không sửa chính tả, không phải họ kém về ngữ pháp, mà do tính chất của loại chửi bình dân này ngắn gọn, mang tính cách mạng rất triệt để. Bởi lẽ, khi đã chửi như vậy là xác minh trắng đen, bạn thù rõ ràng, không ỡm ờ, ầu ơ ví dầu kiểu chính trị vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, như kiểu nói nước đôi của những kẻ có thói quen lừa đảo.

2) Chửi văn chương: Là loại chửi bằng văn thơ, có vần có điệu. Loại chửi này thường xuyên sử dụng phương pháp so sánh, thậm chí trong bài chửi có sử dụng điển tích, điển cố. Đây là loại chửi rất tốn hơi, tốn sức và neutron thần kinh bởi vì khi chửi, có nội dung, có mở bài, thân bài, kết luận. Đối tượng bị chửi thường là bất kỳ ai bởi người chửi không chửi thẳng vào một người cụ thể. Thậm chí, người nghe chửi văn chương lúc đầu ngây ngất du dương nhưng sau một lúc cũng không chịu nổi và bỏ đi do tâm lý tê liệt sức kháng cự, không cãi lại được. Loại chửi này phổ biến ở phụ nữ lớn tuổi vùng ngoại thành Thăng Long. Bởi nền văn hóa làng xã co cụm, ít bị ảnh hưởng văn hóa nước ngoài nên vẫn còn giữ gìn được bản sắc truyền thống là văn hóa chửi này. Loại chửi văn chương có vần theo thể loại thi phú thời xưa. Khi chửi, giọng người chửi phải lên trầm, xuống bổng, nhấn nhá từng âm điệu rất đặc trưng Thời gian hoàn tất một bài chửi, tối thiểu khoảng ba tiếng đồng hồ. còn lâu hơn có khi vài ngày chưa dứt. Thường trong các bài chửi bắt đầu bằng câu “Cha tiên nhân bố…” và sau đó nêu lên vấn đề cần chửi. Thí dụ như nhà bà A mất trộm con gà; vậy là bà A ra chửi bao giờ cũng mở bài là “Cha tiên nhân bố đứa nào ăn cắp con gà của nhà bà”. Sau phần giới thiệu như vậy, bà ta bắt đầu sử dụng hàng loạt phương pháp so sánh “nhân cách hóa” con gà lên như con người và “vật thú hóa” kẻ ăn cắp gà xuống thành loài thú vật. Sau khi vật thú hóa hết mười hai con giáp rồi đến các loài thú hoang, loài chim muông thằng ăn cắp gà, bà ta mở rộng phạm vi chửi. Đó là bà ta chửi đến gia đình tên ăn cắp bao gồm cha mẹ, vợ hoặc chồng và các con rồi khuếch tán ảnh hưởng ra nghề nghiệp, quan hệ nhân thân của đối tượng bị chửi sang các lãnh vực công ăn việc làm, chửi đến việc vợ chồng tương lai của con của thằng ăn cắp già, chửi đến cái bào thai tương lai con cháu đứa ăn cắp gà của bà ta. Chưa dừng lại đó, phạm vi bị chửi được mở rộng maximum đến tằng tôn huyền tổ, là chín đời. Nghĩa là phạm vi đối tượng bị chửi là chín đời tổ tiên cho đến cái bào thai của đứa cháu của cháu nội và ngoại của thằng ăn cắp con gà. Nếu có đối tượng bị chửi cụ thể, có khi người chửi còn dùng vũ điệu dân gian là nhảy theo điệu choi-choi-choi và dùng ngón tay Nhất dương chỉ uốn cong xỉa xỉa vào mặt đối tượng.

Loại chửi văn chương này hiện nay đã mai một nhiều, không còn nguyên gốc, nguyên bản do cuộc sống công nghiệp làm cho bản sắc văn hóa chửi không còn nguyên vẹn mà pha tạp cả lối chửi bình dân. Hơn nữa, người chửi phải có trình độ văn chương, am hiểu về thi phú truyền thống, trong khi, các thế hệ sau học văn rất dở, không biết cách diễn đạt; thậm chí, cách diễn đạt thông thường của các thế hệ 8x, 9x nói năng giao tiếp còn lắp bắp, câu cú lủng củng, nên không kế thừa được truyền thống chửi văn chương của thế hệ trước.

3) Chửi trung thực: Đây là loại chửi của các đại cao thủ. Người chửi phải có tố chất và trí tuệ đặc biệt, kiến thức sâu rộng, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, tư duy toán học có khi hơn cả Ngô Bảo Châu. Nhưng yếu tố tiên quyết là người chửi phải là người quân tử, đi không đổi họ, về chẳng đổi tên và đứng trên quan điểm lẽ phải, sống phải vì dân vì nước với cái “tâm” sáng như ánh trăng rằm. Kẻ bị chửi thường là kẻ ngụy quân tử, loại giả nhân, giả nghĩa, ham danh lợi, lừa thầy phản bạn nhưng hay lên giọng đạo đức. Phương pháp chửi là nói thật và phân tích bằng lời lẽ nặng nề, bình dân, ngắn gọn nhưng phân minh vạch trần sự giả dối, ti tiện, xấu xa, đen đúa của đối tượng; qua đó, gây áp lực tâm lý rất mạnh cho đối tượng suy sụp tinh thần. Thí dụ như Khổng Minh chửi Vương Lãng. Theo Tam Quốc Chí, Khổng Minh trông thấy trước trận che cái lọng, trên cờ đề tên họ rõ ràng. Một người ở giữa, đầu bạc phơ phơ, biết là quan tư đồ Vương Lãng, mới đẩy xe ra, sai tên lính truyền rằng: “Hán thừa tướng ra nói chuyện với Tư đồ đây.

Ảnh minh họa Gia cát Khổng Minh nổi tiếng với văn hóa chửi

Ảnh minh họa Gia cát Khổng Minh nổi tiếng với văn hóa chửi

Vương Lãng giật ngựa đi ra. Khổng Minh ngồi trên xe chắp tay chào. Vương Lãng cũng nghiêng mình đáp lễ.

Lãng nói:

– Lâu nay nghe đại danh của ngài, nay được họp mặt, thật là may lắm! Ngài đã là người biết mệnh trời, hiểu việc đời, cớ sao lại cất quân vô danh làm vậy?

Khổng Minh đáp:

– Ta phụng chiếu ra đánh giặc, sao gọi là vô danh?

Lãng nói:

– Số trời mỗi lúc một khác, thần khí thay đổi mà về người có đức, đó là lẽ tự nhiên. Tự đời Hoàn, Linh trở đi, giặc Khăn Vàng nổi loạn, thiên hạ long lở. Đến đời Sơ Bình, Kiến An, Đổng Trác nổi nghịch. Thôi Dĩ lại nối theo làm càn. Viên Thuật tiếm hiệu ở Thọ Xuân, Viên Thiệu xưng hùng ở Nghiệp Thượng. Lưu Biểu chiếm giữ ở Kinh Châu, Lã Bố lừng lẫy ở Từ Quận. Trộm giặc dấy lên như ong, gian hùng bay ra như cắt. Xã tắc nguy như chồng quả trứng, sinh dân khổ như dốc ngược đầu. May có Thái tổ Võ Hoàng Đế ta, quét sạch sáu cõi, cuốn hết tám phương, muôn dân dốc lòng, bốn phương ngóng đức. Đó không phải là lấy quyền thế ăn hiếp gì ai, thực là lòng trời cho đấy! Thế tổ Văn Hoàng Đế nối giữ nghiệp lớn, ngồi trong nước, coi trị muôn phương há chẳng phải là lòng trời ru? Nay ông cậy tài to, ôm chí lớn, ứng trời hợp người phép Nghiêu Thuấn trị Trung Nguyên để giữ vạn nhà, tự ví mình với Quản, Nhạc, sao lại muốn nghịch lẽ trời, trái tình người mà làm thế ru? Há chẳng nghe có câu rằng: “Thuận với trời thì thịnh, nghịch với trời thì nguy!” ư? Nay Đại Ngụy ta, giáp binh trăm vạn, tướng tá nghìn viên. Cái thứ đom đóm lập lòe trong đám cỏ hôi, địch nổi sao được vầng trăng vằng vặc giữa trời. Ông nên quay gươm cởi giáp, đem lễ lại hàng, không đến nỗi mất vị phong hầu đâu mà sợ, để cho nước được yên, dân được vui, thế chẳng hay lắm ru?

24htin

Khổng Minh nghe xong, chửi luôn: “Ta tưởng mày là một vị lão thần nhà Hán, có lời gì hay ho? Ai ngờ nói ngu như kẻ thiểu năng trí tuệ, như loài chó đẻ, trâu sanh.”

Rồi Khổng Minh nói lớn cho cả đám binh lính: “Ta có một lời này, các quân nín lặng mà nghe: Khi xưa về đời Hoàn, Linh, nhà Hán suy đốn. Kẻ hoạn quan gây vạ, nước loạn, mất mùa, bốn phương xao xuyến. Sau giặc Khăn Vàng, kế đến giặc Đổng Trác, Thôi Dĩ, hiếp vua Hán đế, tàn ngược kẻ sinh dân. Chốn miếu đường, đồ mục nát làm quan; nơi điện bệ, giống cầm thú ăn lộc. Những kẻ nết muông ruột chó, nhung nhúc đầy triều; những phường gối tớ mặt mo, nghênh ngang quyền chính. Vì thế xã tắc đổ nát, sinh dân lầm than. Ta biết mày, Vương Lãng, vốn người ở bến Đông Hải, trước đỗ hiếu liêm, được vào làm quan. Đáng lẽ phải phò vua giúp nước, yên nhà Hán dựng lại họ Lưu mới phải, không ngờ mày lại giúp giặc, đồng mưu cướp ngôi. Tội nhiều, ác nặng, trời tất không dong. Người trong thiên hạ, ai cũng muốn xé xác mày ra. Nay may lòng trời chưa nỡ tuyệt nhà Viêm Hán, Chiêu liệt Hoàng Đếlại kế thống ở Tây Xuyên. Ta nay phụng mệnh tự quân, cất quân đánh giặc. Mày là nịnh bợ, nâng bi, thì chỉ nên rụt cổ ở nhà ăn cơm, sao dám ra làm đại biểu của dân, phát biểu như chó điên, như loài vượn bị tâm thần vậy? Mày là thằng mất dạy đầu đầu bạc. Mày là con chó ghẻ râu trắng! Mày đã già sắp chết, còn mặt mũi nào trông thấy hai mươi bốn vua nhà Hán nữa? Con chó già cút ngay, bảo quân phản thần ra đây, cùng với ta quyết trận sống chết.

Vương Lãng nghe khí uất đầy ruột, kêu hú lên một tiếng, ngã lăn xuống đất mà chết.
Người sau có thơ khen Khổng Minh rằng: “Binh mã ra Tây Tần- Hùng tài địch muôn quân- Nhẹ đưa ba tấc lưỡi- Chửi chết lão gian thần”

Đương nhiên, chửi trung thực thì người chửi phải là người quân tử, là người đứng về công lý, về lẽ phải và có niềm tin nội tâm mãnh liệt làm cho đối tượng bị chửi trào uất khí mới chết được. Nếu không phải là người vì dân, vì nước thật sự, không những không thể há miệng nổi mà còn sợ kẻ khác nói xấu, gièm pha. “Cây ngay không sợ chết đứng”, chỉ khi nào bản thân có Tâm trong sáng thì mới không sợ bị nói xấu mà thôi.

theo: Lê Học Lâm

 

Từ khóa: , , , ,